net_left Kdata Phương Thức Thanh Toán
Phương Thức Thanh Toán

Xuất khẩu than tăng mạnh trong tháng 8. Thị trường Việt Nam 17/9

Theo Dong Hai AiVIF.com – Thị trường Việt Nam kết thúc tuần với 3 thông tin đáng chú ý: Xuất khẩu than tăng mạnh trong tháng 8, khu phi thuế quan tại Phú Quốc được thông qua...
Xuất khẩu than tăng mạnh trong tháng 8. Thị trường Việt Nam 17/9 © Reuters

Theo Dong Hai

AiVIF.com – Thị trường Việt Nam kết thúc tuần với 3 thông tin đáng chú ý: Xuất khẩu than tăng mạnh trong tháng 8, khu phi thuế quan tại Phú Quốc được thông qua quy hoạch và cơn sốt giá kim loại sẽ kéo dài đến khi nào? Dưới đây là nội dung chính 3 tin tức trong phiên giao dịch hôm nay thứ Sáu ngày 17/9.

1. Xuất khẩu than tăng mạnh trong tháng 8

Theo Tổng cục Hải quan, xuất khẩu than các loại trong tháng 8 đạt gần 190 nghìn tấn, giá trị 22 triệu USD, tăng 38% về lượng và tăng 26% về giá trị so với tháng 7.

Lũy kế 8 tháng đầu năm, xuất khẩu than đạt 1,2 triệu tấn, tương đương 148 triệu USD, gần 2,5 lần về lượng và tăng 2,2 lần về kim ngạch xuất khẩu so với cùng kỳ năm 2020. Giá than xuất khẩu tháng 8 đạt 117 USD/tấn, giảm 11% USD/tấn so với tháng 7. Tính chung 8 tháng đầu năm, giá than xuất khẩu trung bình đạt 124 USD/tấn, giảm gần 10% so với cùng kỳ năm 2020. Vì vậy, xuất khẩu than của Việt Nam đang lấy lại đà tăng trưởng sau khi giảm 56% vào tháng 7. Nguyên nhân vì nhu cầu than tiêu thụ của thế giới tăng mạnh trong khi nguồn cung khan hiếm.

Theo Bloomberg, công ty phân tích Goldman Sachs Group Inc. dự báo giá than châu Á có thể tăng gấp đôi khi nhu cầu sản xuất nhiệt điện phục hồi trên toàn cầu trong khi nguồn cung tại các quốc gia khai thác chủ chốt đang khan hiếm. Các nhà phân tích Paul Young và Hugo Nicolaci cho biết giá than nhiệt của Newcastle sẽ đạt trung bình 190 USD/ tấn trong quý IV, tăng so với dự báo trước đó là 100 USD/tấn để đáp ứng nhu cầu trong mùa đông ở bắc bán cầu và sự phục hồi của ngành khí đốt tự nhiên. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng nâng dự báo giá than năm 2022 lên 120 USD/tân từ mức 85 USD/tấn.

Xuất khẩu than toàn cầu từ các nhà sản xuất lớn đã tăng khoảng 8% trong tháng 5 và tháng 6 do nguồn cung từ Indonesia giảm sút hơn so với sản lượng của Australia, Nam Phi và Colombia. Trong khi đó, lượng mua tại các nhà nhập khẩu lớn bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đã tăng 16% trong tháng 6. Theo số liệu hàng tuần do China Coal Resource công bố, than Newcastle tăng lên 181 USD/tấn vào ngày 13/9. Ngân hàng cũng nâng dự báo đối với than luyện cốc được sử dụng để sản xuất thép, với giá quý IV hiện cao hơn 48% ở mức 230 USD/tấn. Và giá than năm 2022 cũng tăng 13% lên 175 USD/tấn. Giá than cốc Australia giao sau trên sàn giao dịch Singapore chốt ở mức 365,5 USD/tấn vào thứ 14/9.

2. Khu phi thuế quan tại Phú Quốc được thông qua quy hoạch

HĐND tỉnh Kiên Giang vừa có Nghị quyết về việc thông qua Đồ án quy hoạch phân khu xây dựng Khu phi thuế quan ở xã Hàm Ninh, TP Phú Quốc tỷ lệ 1/2.000 với quy mô hơn 104 ha. Trong đó, đất Khu phi thuế quan khoảng 101,5 ha, còn lại là đất giao thông đường trục Bắc Nam.

Vào tháng 6/2020, UBND tỉnh Kiên Giang đã công bố Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Liên Thái Bình Dương (IPPG) là đơn vị trúng thầu theo hình thức chỉ định thầu. Dự án Khu phi thuế quan thuộc ấp Bãi Vòng, xã Hàm Ninh (huyện Phú Quốc). Dự án dự kiến có 12 hạng mục chính nằm trong (hàng rào cứng) và khu thương mại, dịch vụ nằm ngoài khu phi thuế quan. Cụ thể, gồm: Trung tâm bán hàng giảm giá (Factory Outlet), khu vực siêu thị miễn thuế, cửa hàng miễn thuế, khu thương mại dịch vụ ăn uống (F&B), khu vui chơi giải trí, các hạng mục và cơ sở hạ tầng khác,… Tổng chi phí thực hiện dự án dự kiến 6.830 tỷ đồng. Trong đó, vốn chủ sở hữu tối thiểu của nhà đầu tư là 1.024 tỷ đồng, chiếm 15%. Còn lại là vốn vay mà nhà đầu tư phải huy động. Thời gian và tiến độ thực hiện dự án khoảng 5 năm.

3. Cơn sốt giá kim loại sẽ kéo dài đến khi nào?

Moody’s vừa công bố báo cáo chi tiết về triển vọng giá trung hạn về tương lai thị trường kim loại từ "tích cực" sang "ổn định", mặc dù cho rằng giá hầu hết các kim loại đang liên tiếp vượt những mốc cao kỷ lục lịch sử, song điều đó không có nghĩa là giá sẽ tiếp tục tăng thêm nữa.

Theo Moody’s, mức giá cao hiện tại sẽ giảm dần, mặc dù nhu cầu kim loại nói riêng và ngành khai khoáng nói chung vẫn ở mức cao. Tổ chức này cho rằng giá hầu hết các kim loại cơ bản sẽ duy trì vững trong cả năm 2022, sau khi đạt kỷ lục cao trong năm nay.

  • Giá nhôm dự kiến tiếp tục tăng cho đến ít nhất là đầu năm 2022, vượt mức 2.600 USD/tấn, tương đương 1,18 USD/lb, mức cao nhất trong một thập kỷ, sau đó duy trì vững cho đến giữa năm 2022.
  • Giá đồng cũng được dự đoán sẽ duy trì ở mức cao cho đến ít nhất là vào cuối năm 2022 so với mức trung bình trong lịch sử. Về dài hạn, thiếu hụt nguồn cung dự báo sẽ tiếp tục hỗ trợ giá kim loại đỏ này. Nỗ lực của các quốc gia trong việc giảm thiểu khí thải carbon, bằng việc chuyển đổi sang những nguồn năng lượng sạch, cũng mang lại lợi ích cho ngành sản xuất đồng, khiến các nhà cung cấp tiếp tục phải chật vật để đáp ứng nhu cầu ở một số khu vực, trong đó có Chile. Giá đồng đã duy trì trên 4,00 USD/lb kể từ tháng 2 do nhu cầu hồi phục đáng kể. Đầu tháng 5/2021, giá đồng đã lên tới gần 5 USD/lb, trước khi giảm trở lại trong bối cảnh Trung Quốc gặp rủi ro bởi virus Covid-19 biến thể Delta làm chậm hoạt động sản xuất tại nước này, kéo theo nhập khẩu đồng cũng giảm. Moody’s dự báo giá đồng trong quý thứ 3/2021 vẫn ở mức cao, khoảng 2,50 USD đến 3,00 USD/lb như ở những năm trước khi xảy ra đại dịch Covid-19.
  • Giá nickel cao trong nửa đầu năm 2021 sẽ không bền vững vào năm 2022, nhưng có thể sẽ vẫn ở mức cao ít nhất là tới đầu năm 2022. Sản lượng nickel đã phục hồi hoàn toàn về mức trước đại dịch nên nguồn cung nickel dự kiến sẽ dồi dào. Vào tháng 8/2021, giá nickel khoảng 19.000 USD/tấn, tương đương 8,62 USD/lb, tăng gần 40% so với mức trung bình 13.784 tấn (6,25 USD/lb) của năm 2020 trong bối cảnh hoạt động kinh tế phục hồi, việc dỡ bỏ các chính sách hạn chế chống Covid-19 và kỳ vọng về nhu cầu cao đối với pin. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng nguồn cung cấp gang nickel (nickel pig iron - NPI) - một loại ferronickel cấp thấp và là sản phẩm thay thế rẻ hơn cho nickel nguyên chất trong sản xuất thép không gỉ - sẽ ngày càng tăng ở Indonesia có thêm nhiều cơ sở khai thác đi vào hoạt động. Sự gia tăng NPI của Indonesia dự kiến ​​sẽ bù đắp cho sản lượng giảm ở Trung Quốc, nơi đối mặt với nguồn cung quặng giảm và giá quặng tăng.
  • Giá kẽm đã thể hiện "sức mạnh" (tăng giá) vào giữa năm 2021, giá kim loại này trong dài hạn dự báo sẽ giảm xuống do tăng trưởng sản xuất kẽm dài hạn vượt xa mức tăng trưởng nhu cầu thấp. Mặc dù vậy, giá kẽm dự báo sẽ tiếp tục tăng trong nửa cuối năm 2021 trong bối cảnh nhu cầu mạnh mẽ từ lĩnh vực thép và sản lượng kẽm ở Trung Quốc giảm. Thị trường kẽm thế giới hiện đang chuyển từ thâm hụt sang dư thừa, với sản lượng phục hồi tại các mỏ kẽm lớn của Peru, Mexico và Bolivia cùng các quốc gia khác.

Đối với kim loại quý, Moody's dự báo sự bất ổn của thị trường, lãi suất thực thấp và lạm phát sẽ giữ giá VÀNG trên bình thường của những năm trước cho đến năm 2022, nhưng dự đoán giá sẽ giảm khỏi mức khoảng 1.800 USD/ounce trong quý 3/2022, trong bối cảnh kinh tế tiếp tục phục hồi, đồng USD Mỹ mạnh lên và sản lượng vàng tăng dần. Giá bạc dự báo sẽ tiếp tục đứng ở mức cao trong năm 2022, phản ánh những yếu tố tương tự như đối với vàng, và bởi nhu cầu từ lĩnh vực công nghiệp liên tục gia tăng.

Bên cạnh đó, Fitch Solutions cũng đưa ra nhận định trong một báo cáo, sau năm 2021, sự phục hồi sản lượng khai thác - bắt đầu vào năm 2019 sau 5 năm liên tiếp suy giảm - sẽ vẫn còn tiếp diễn. "Tuy nhiên, giá kẽm giảm dần sẽ hạn chế quy mô mở rộng những dự án có sẵn cũng như phát triển những dự án mới bởi sức hấp dẫn từ các dự án như vậy giảm sút theo giá kẽm”.

Hàng loạt các kim loại dự báo sẽ quay trở về mức giá trước đây. Dự báo giá quặng sắt sau năm 2022 sẽ chuyển dần về mức trung bình từ 70 đến 80 USD/tấn như trong giai đoạn 2016 đến 2019. Trước mắt, nguồn cung quặng sắt thắt chặt sẽ giữ giá ở mức cao cho đến năm 2022. Tuy nhiên, giá hiện nay đã giảm mạnh so với mức đỉnh cao vào đầu năm 2021 do nguồn cung tăng và tốc độ tăng trưởng nhu cầu giảm dần.

Giá than dự kiến ​​sẽ vẫn ở mức tương đối cao nhưng sẽ giảm dần do các vấn đề về nguồn cung và các tranh chấp địa chính trị sẽ dịu dần lại.

Trong khi đó, sự mất cân bằng cung cầu trên toàn thế giới đối với thép sẽ quay trở lại vào năm 2022, khiến giá dự báo sẽ giảm dần về mức trung bình lịch sử, sau khi đạt mức cao bất thường trong năm nay.

Hot Auto Trade Bot Phương Thức Thanh Toán
BROKERS ĐƯỢC CẤP PHÉP
net_home_top Ai VIF
01-05-2024 10:45:17 (UTC+7)

EUR/USD

1.0658

-0.0008 (-0.07%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (2)

Sell (3)

EUR/USD

1.0658

-0.0008 (-0.07%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (2)

Sell (3)

GBP/USD

1.2475

-0.0015 (-0.12%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (10)

USD/JPY

157.91

+0.12 (+0.07%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

AUD/USD

0.6469

-0.0003 (-0.05%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (10)

Sell (2)

Indicators:

Buy (2)

Sell (3)

USD/CAD

1.3780

+0.0003 (+0.03%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (0)

EUR/JPY

168.32

+0.10 (+0.06%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

EUR/CHF

0.9808

+0.0001 (+0.01%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (3)

Sell (2)

Gold Futures

2,295.80

-7.10 (-0.31%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

Silver Futures

26.677

+0.023 (+0.09%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (2)

Sell (10)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

Copper Futures

4.5305

-0.0105 (-0.23%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (10)

Sell (2)

Indicators:

Buy (8)

Sell (1)

Crude Oil WTI Futures

81.14

-0.79 (-0.96%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (7)

Brent Oil Futures

85.62

-0.71 (-0.82%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (1)

Sell (7)

Natural Gas Futures

1.946

-0.009 (-0.46%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (5)

US Coffee C Futures

213.73

-13.77 (-6.05%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (0)

Sell (10)

Euro Stoxx 50

4,920.55

-60.54 (-1.22%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (1)

Sell (7)

S&P 500

5,035.69

-80.48 (-1.57%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (7)

DAX

17,921.95

-196.37 (-1.08%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (6)

FTSE 100

8,144.13

-2.90 (-0.04%)

Summary

Sell

Moving Avg:

Buy (5)

Sell (7)

Indicators:

Buy (2)

Sell (4)

Hang Seng

17,763.03

+16.12 (+0.09%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (6)

US Small Cap 2000

1,973.05

-42.98 (-2.13%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (7)

IBEX 35

10,854.40

-246.40 (-2.22%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (3)

Sell (3)

BASF SE NA O.N.

49.155

+0.100 (+0.20%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (7)

Bayer AG NA

27.35

-0.24 (-0.87%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

Allianz SE VNA O.N.

266.60

+0.30 (+0.11%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (3)

Sell (5)

Adidas AG

226.40

-5.90 (-2.54%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (2)

Sell (7)

Deutsche Lufthansa AG

6.714

-0.028 (-0.42%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (9)

Sell (1)

Siemens AG Class N

175.90

-1.74 (-0.98%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

Deutsche Bank AG

15.010

-0.094 (-0.62%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (6)

Sell (2)

    EUR/USD 1.0658 ↑ Sell  
    GBP/USD 1.2475 ↑ Sell  
    USD/JPY 157.91 ↑ Buy  
    AUD/USD 0.6469 Neutral  
    USD/CAD 1.3780 ↑ Buy  
    EUR/JPY 168.32 ↑ Buy  
    EUR/CHF 0.9808 Neutral  
    Gold 2,295.80 ↑ Sell  
    Silver 26.677 ↑ Sell  
    Copper 4.5305 ↑ Buy  
    Crude Oil WTI 81.14 ↑ Sell  
    Brent Oil 85.62 ↑ Sell  
    Natural Gas 1.946 ↑ Sell  
    US Coffee C 213.73 ↑ Sell  
    Euro Stoxx 50 4,920.55 ↑ Sell  
    S&P 500 5,035.69 ↑ Sell  
    DAX 17,921.95 ↑ Sell  
    FTSE 100 8,144.13 Sell  
    Hang Seng 17,763.03 ↑ Sell  
    Small Cap 2000 1,973.05 ↑ Sell  
    IBEX 35 10,854.40 Neutral  
    BASF 49.155 ↑ Sell  
    Bayer 27.35 ↑ Sell  
    Allianz 266.60 ↑ Sell  
    Adidas 226.40 ↑ Sell  
    Lufthansa 6.714 Neutral  
    Siemens AG 175.90 ↑ Sell  
    Deutsche Bank AG 15.010 Neutral  
Mua/Bán 1 chỉ SJC
# So hôm qua # Chênh TG
SJC Eximbank8,300/ 8,500
(8,300/ 8,500) # 1,298
SJC 1L, 10L, 1KG8,300/ 8,520
(0/ 0) # 1,510
SJC 1c, 2c, 5c7,380/ 7,550
(0/ 0) # 540
SJC 0,5c7,380/ 7,560
(0/ 0) # 550
SJC 99,99%7,370/ 7,470
(0/ 0) # 460
SJC 99%7,196/ 7,396
(0/ 0) # 386
Cập nhật 01-05-2024 10:45:19
Xem lịch sử giá vàng SJC: nhấn đây!
ↀ Giá vàng thế giới
$2,285.72 -47.5 -2.04%
Live 24 hour Gold Chart
ʘ Giá bán lẻ xăng dầu
Sản phẩm Vùng 1 Vùng 2
RON 95-V25.44025.940
RON 95-III24.91025.400
E5 RON 92-II23.91024.380
DO 0.05S20.71021.120
DO 0,001S-V21.32021.740
Dầu hỏa 2-K20.68021.090
ↂ Giá dầu thô thế giới
WTI $80.83 +3.39 0.04%
Brent $85.50 +3.86 0.05%
$ Tỷ giá Vietcombank
Ngoại tệMua vàoBán ra
USD25.088,0025.458,00
EUR26.475,3627.949,19
GBP30.873,5232.211,36
JPY156,74166,02
KRW15,9219,31
Cập nhật lúc 10:45:15 01/05/2024
Xem bảng tỷ giá hối đoái
Phương Thức Thanh Toán